GIT BASH LÀ GÌ

Trong bài học trước chúng ta đã làm quen với khái niệm Hệ thống quản lý phiên bản. Chúng ta cũng đã nhắc tới Git – hệ thống quản lý phiên bản phân tán phổ biến hàng đầu hiện nay, và học cách cài đặt Git trên các hệ điều hành.

Bạn đang xem: Git bash là gì

Trong bài học này chúng ta sẽ làm quen với quy trình và kỹ thuật sử dụng Git với giao diện dòng lệnh (CLI) ở chế độ offline.

Lưu ý rằng nội dung trình bày trong bài này là quy trình và kỹ thuật cơ bản trong sử dụng Git (bash), không liên quan đến IDE nào. Cách sử dụng Git trong một số IDE phổ biến sẽ được trình bày trong một bài học riêng.


NỘI DUNG CỦA BÀI Ẩn
1. Tạo thư mục dự án
2. Khởi tạo Git, repository
3. Tạo các file mã nguồn, working directory
4. Đưa file vào danh sách theo dõi và lưu dự phòng, staging
5. Tạo bản sao lưu của dự án, commit
6. Trạng thái của file
7. Kết luận

Để nắm được quy trình sử dụng Git offline, chúng ta cùng thực hiện một ví dụ.

Để đơn giản trong minh họa chúng ta sẽ làm việc với Windows. Nếu bạn sử dụng Linux hay Mac, hãy chủ động thực hiện các thao tác với file và thư mục.

Trong Windows, bạn nên sử dụng chương trình Git Bash. Đây là chương trình mô phỏng giao diện console cho windows tương tự như terminal của Linux hay Mac. Chương trình này cài đặt sẵn khi bạn cài đặt Git for Windows.

Trong Mac và Linux, bạn sử dụng terminal quen thuộc.

Tạo thư mục dự án


Nếu bạn đã có sẵn một dự án, bạn có thể sử dụng ngay thư mục đó.

Nếu dùng Windows, mở thư mục dự án, click phải chuột và chọn Git Bash here.

Nếu dùng Hệ điều hành khác, bạn chuyển thư mục dự án thành thư mục hiện hành (ví dụ, sử dụng lệnh cd – change directory).

Nếu không có sẵn dự án, chúng ta đang giả sử rằng cần quản lý phiên bản cho một dự án mới đặt trong thư mục HelloGit.

Nếu sử dụng Windows Explorer:

Tạo thư mục Projects trong Documents. Thư mục này tạo ra chỉ để tiện lợi cho việc thực hiện các ví dụ.Trong thư mục Projects tạo tiếp thư mục con HelloGit. Đây sẽ là thư mục của dự án.Mở thư mục HelloGit, mở context menu và chọn Git Bash here.
*
*
*
*
*
*
Mỗi snapshot cũng được gọi là một commit.

Trong lệnh commit ở trên, “initial project” là nội dung mô tả cho commit. Bạn có thể đặt tên tùy ý, miễn sao nó dễ hiểu khi bạn cần mở lại commit này.

Khi thực hiện commit thành công, mỗi bản snapshot sẽ có một “mã số”. Ví dụ ở trên có mã hash là 4477c6b. Mã hash này được dùng để “quay trở lại” snapshot tương ứng.

Xem thêm: Bán Usb Sound Card Am Thanh Usb An Toàn, Bán Chạy Nhất, Sound Card Am Thanh Usb An Toàn, Bán Chạy Nhất

Lệnh commit sẽ tạo ra bản sao lưu dự phòng của dự án từ những file được bạn đánh dấu staging ở bước trên. Những file/thư mục nào không được đánh dấu staging (còn gọi là không nằm trong staging area) sẽ không được đưa vào bản lưu dự phòng này.

Giờ đây bạn có đã bản lưu dự phòng của project. Bạn có thể yên tâm làm việc tiếp trên project.

Git cho phép tạo ra số lượng tùy ý bản lưu dự phòng như vậy. Nhìn chung, trước bất kỳ sự thay đổi quan trọng nào bạn nên commit.

Từ giờ trở đi, bạn có thể tiếp tục thực hiện chu trình Làm việc với dự án (thêm / sửa / xóa file)=> Staging (chỉ định các file cần lưu dự phòng) => Commit (tạo bản sao dự phòng).

Trạng thái của file


Trong hai phần trên bạn có thể để ý rằng các lệnh $ git add và $ git commit đều là những lệnh làm biến đổi trạng thái của các file do Git quản lý. Các thao tác cơ bản của Git đều có liên hệ với trạng thái của mỗi file.

Chúng ta sẽ trình bày kỹ hơn về trạng thái của file trong Git.

Mặc định Git không thể tự động theo dõi sự thay đổi của tất cả các file trong working directory. Những thay đổi trong working directory bao gồm thêm mới, xóa, cập nhật nội dung file. Mỗi file tạo mới trong thư mục làm việc đều không được theo dõi. Người ta nói rằng các file mới này nằm ở trạng thái untracked.

Khi dùng lệnh $ git add trên một file mới (trạng thái untracked) sẽ chuyển nó sang trạng thái tracked. Những file ở trạng thái tracked là những file được Git theo dõi lịch sử. Việc chuyển đổi untracked sang tracked chỉ thực hiện một lần (khi gọi $ git add lần đầu tiên).

Khi bạn thay đổi một file (đã được theo dõi – tracked), bạn đồng thời chuyển nó sang trạng thái modified. Đây là trạng thái mà Git biết file có thay đổi, nhưng chưa đưa nó vào danh sách lưu dự phòng.

Nếu muốn lưu dự phòng file nào bạn sẽ phải yêu cầu Git qua lệnh $ git add. Một file được chỉ định cho lưu dự phòng sẽ chuyển từ trạng thái modified / unstaged sang trạng thái staged.

Trong bài học sau bạn sẽ học cách chỉ định các file / thư mục mà Git không cần theo dõi sự thay đổi, gọi là git ignore. Những file này có một trạng thái khác: ignored.

Như vậy cần lưu ý: (1) lệnh $ git add nếu dùng trên file untracked trước hết sẽ chuyển nó thành tracked, sau đó chuyển sang staged; (2) một file ở trạng thái tracked và có thay đổi nội dung sẽ chuyển sang trạng thái modified.(3) nếu dùng $ git add trên file đã ở trạng thái modified sẽ chuyển nó sang staged. (4) việc chuyển từ untracked sang tracked chỉ cần thực hiện một lần duy nhất (sau khi tạo file). (5) việc chuyển từ modified sang staged cần thực hiện mỗi lần cần lưu dự phòng.

Kết luận


Đến đây chúng ta tạm thời kết thúc bài hướng dẫn sử dụng Git cơ bản.

Trong quá trình sử dụng Git (ở chế độ offline) sẽ còn phát sinh nhiều vấn đề nữa cần xử lý, như mở lại một snapshot đã commit, xóa bỏ tạm thời các thay đổi (stash), v.v..

Các chủ đề này sẽ tiếp tục được trình bày trong bài học tiếp theo.

+ Nếu bạn thấy site hữu ích, trước khi rời đi hãy giúp đỡ site bằng một hành động nhỏ để site có thể phát triển và phục vụ bạn tốt hơn.+ Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy giúp chia sẻ tới mọi người.+ Nếu có thắc mắc hoặc cần trao đổi thêm, mời bạn viết trong phần thảo luận cuối trang.Cảm ơn bạn!